Home / Văn mẫu lớp 12 / Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

Đề bài: Anh chị hãy phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

Bài làm 

Nguyễn Khoa Điềm sinh ra trong một gia đình tri thức có truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng.Thơ ông rất giàu chất suy tư,cảm xúc dồn nén,mang màu sắc trữ tình -chính luận.Cùng với các nhà thơ thế hệ chống Mỹ lúc bấy giờ,Nguyễn Khoa Điềm cũng hướng ngòi bút của mình đến một chủ đề lớn lao của thơ ca đương thời đó chính là đất nước. Tuy nhiên hình ảnh “đất nước” trong thơ Nguyễn Khoa Điềm không chỉ có đau thương mất mát hay chỉ có cảnh hơn hà hùng vĩ mà “đất nước” hiện lên trọn vẹn qua những suy nghĩ và cảm nhận hết sức mới mẻ.

Đoạn trích “Đất nước” trong trường ca “Mặt đường khát vọng” chính là một định nghĩa đủ đầy về đất nước và qua đó cũng thể hiện sâu sắc tư tưởng cốt lõi của tác phẩm “Đất nước là của nhân dân”.

Mở đầu đoạn trích là giọng thơ nhẹ nhàng, thủ thỉ như những lời tâm tình kết hợp hình ảnh đến nỗi thân thuộc của chúng ta. Với 9 câu thơ đầu nói về thời gian đằng đẵng, dài đến bất tận. 

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

……………………………………………….

Đất Nước có từ ngày đó…”

Ngay từ đầu bài thơ, tác giả đã sử dụng các cụm từ “có rồi”,  “có trong”, “bắt đầu”, “có từ ngày đó”,… để truy nguyên nguồn cội của đất nước. Nếu như nhà nhà khoa hay khảo cổ học sử dụng những chứng cứ xác thực để xác định được cội nguồn của đất nước thì với thi sĩ của chúng ta, ông đã sử dụng các hình ảnh để minh chứng:  “ngày xửa ngày xưa”, “miếng trầu”, “trồng tre”, “tóc mẹ”, “rừng cay muối mặn”, “cái kèo, cái cột”. “một nắng hai sương” đây là những hình ảnh hết sức bình dị và thân thuộc, gắn bó với đời sống của mỗi chúng ta. Tóm lại đất nước có cội nguồn từ cuộc sống của chính nhân dân, có trong những thứ bình dị thiêng liêng nhất, có trong chính những sản phẩm lao động.

Đất nước còn là thành quả của công cuộc lao động vất vả để sinh tồn, để dựng xây nhà cửa:

“Cái kèo cái cột thành tên

…………………………………..

Đất Nước có từ ngày đó.”

Ở đây Đất nước không còn là một khái niệm trìu tượng nữa mà cụ thể, quen thuộc và giản dị biết bao. Việc tác giả sử dụng những chất liệu dân gian để thể hiện suy tưởng của mình về đất nước với quam niệm “Đất nước của nhân dân”

Vẫn bằng lời trò truyện tâm tình với mỗi nhân vật đối thoại tưởng tượng. Nguyễn Khoa Điềm đã diễn giải khái niệm đất nước theo kiểu riêng của mình:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.

Đất nước không chỉ được cảm nhận bởi không gian địa lí mênh mông từ rừng đến bể mà còn được cảm nhận bởi không gian sinh hoạt bình thường. Ý niệm về đất nước được gợi ra từ việc chhia tách hai yếu tố hợp thành là đất và nước với những liên tưởng gợi ra từ đó. Sử dụng lỗi chiết tự mà vẫn không ngô nghê, mà vẫn thật duyên dáng và ý nhị, có thể gợi ra cho thấy một quan niệm mang những đặc điểm riêng của dân tộc ta về khái niệm Đất nước, mà tư duy thơ có thể tách ra, nhấn mạnh.

“Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ

……………………………………….

Nước là nơi Rồng ở”

Ở đoạn thơ này, tác giả đã chơi trò chơi tách ghép chữ, lúc thì “đất là”, khi thì “nước”, sau lại “đất nước”. Chính trò chơi này làm cho hình ảnh đất nước hiện ra vừa sinh động, vừa cụ thể. Như vậy, đất nước không chỉ tồn tại trong không gian riêng của mỗi người, không gian riêng của tình yêu đôi lứa mà đất nước tồn tại trong không gian chung của cộng đồng, của rừng vàng biển bạc, quá đỗi trù  phú làm cho chúng ta cảm thấy vô cùng tự hào.

Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng

Những ai đã khuất

Những ai bây giờ

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau         

Hằng năm ăn đâu, về đâu

Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ”.

Còn đất nước tồn tại trong văn hóa của người Việt như thế nào, đó là dù đã là người đã khuất hay người ở lại đều phải biết gan vác trọng trách của đất nước và đặc biệt dù đi đâu về đâu, an cư lạc nghiệp phương trời nào thì đúng ngày âm lịch  10 tháng 3 phải cúi đầu nhớ về ngày giỗ Tổ.

Cảm hứng thơ của tác giả có vẻ phóng túng, tự do nhưng thật ra đây là một hệ thống lập luận khá rõ mà chủ yếu là tác giả thể hiện đất nước trong ba phương diện: trong chiều rộng của không gian lãnh thổ địa lí, trong chiều dài thăm thẳm của thời gian lịch sử, trọn bề dày của văn hóa – phong tục, lối sống tâm hồn và tính cách dân tộc.

Hai chữ “cúi đầu” đầy yêu thương thành kính với đất nước. Ở đây, nhà thơ đã phát hiện ra một chân lí giản dị mà sâu sắc:

“Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần Đất Nước”

Giọng thơ tâm tình, với lối xưng hô “anh – em” tha thiết, nhà thơ như nhắn nhủ: đất nước không chỉ tồn tại khách thể, mà đã hóa thân trong máu xương mỗi người, trở thành một phần tâm hồn trí tuệ của “anh và em”. Sự gắn bó máu thịt giữa số phận cá nhân với vận mệnh cộng đồng là tư tưởng chung của thời đại. “Khi hai đứa cầm tay” tình yêu lứa đôi riêng tư đã tự mang trong nó vẻ đẹp hài hòa nồng thắm của tâm hồn dân tộc. “Khi chúng ta cầm tay mọi người”, tình yêu của hai đứa gắn bó với cái chung của tình yêu đất nước. Mỗi chúng ta đã nối vòng tay lớn vào cộng đồng, tạo nên một khối đại đoàn kết dân tộc, làm cho đất nước “vẹn tròn to lớn”, trường tồn và phát triển.

Xem thêm:  Các con đứng như tượng đài quyết tử Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra Dòng máu Việt chảy trong hồn người Việt Đang bồn chồn thao thức với Trường Sa.

Trách nhiệm với đất nước, cũng chính là trách nhiệm với chính bản thân mình, bởi:

“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình”

“Máu xương” được hiểu theo cả nghĩa cụ thể và nghĩa ẩn dụ, “Đất Nước” đã trở thành hình hài, máu thịt, cốt cách của mỗi người dân Việt Nam. Vì thế, chúng ta đều tự nhiên gắn bó với đất nước bằng tình yêu thiết tha sâu sắc, thiêng liêng và biết san sẻ với cộng đồng bằng ý thức trách nhiệm, khi cần có thế “hóa thân” bằng hành động hi sinh cho đất nước. Động từ “hóa thân” được nhà thơ sử dụng không chỉ phù hợp với màu sắc dân gian của chương thơ mà còn diễn tả sâu sắc sự tự nguyện dâng hiến trọn vẹn cho đất nước để bất tử hóa cùng non sông của mỗi người dân. Điệp ngữ “phải biết” vừa như một mệnh lệnh, vừa là tiếng nói thúc giục của con tim, tạo thành chất trữ tình chính luận sâu sắc.

Được bao bọc trong không khí của văn học dân gian, hình tượng đất nước trên trang thơ của Nguyễn Khoa Điềm thơ mộng, trữ tình như từ xa xưa vọng về, bình dị mà thân thương gắn bó thiết tha với mỗi người dân. Cảm nhận về đất nước tản mạn mà thống nhất, sâu sắc. Hai chữ “Đất Nước” được viết hoa và điểm lại nhiều lần như một con mắt thơ đầy kính yêu, tự hào. Nhà thơ định nghĩa về “Đất Nước” bằng thơ, lời thơ lấp lánh màu sắc của huyền thọai dân gian, vừa lung linh vẻ đẹp trí tuệ, vừa thiết tha cảm xúc, tạo nhiều âm vang trong lòng người đọc.

Nếu “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi mang đậm sắc thái hiện đại, gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp đau thương nhưng anh dũng và kiên cường thì “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm lại đậm đà phong vị dân gian, gắn với cội nguồn văn hóa của dân tộc. Cùng tỏa sáng tình yêu và niềm tự hào đối với đất nước, nhưng mỗi bài thơ có một vẻ đẹp riêng, khiến cho cảm hứng về quê hương đất nước trở nên đa dạng, hấp dẫn.

phan tich bai tho dat nuoc cua nguyen khoa diem - Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

Phân tích bài thơ Đất nước

Nếu như phần đầu khúc ca, Nguyễn Khoa Điềm nói về lịch sử cùng với định nghĩa “Đất Nước” bằng thơ theo cách riêng của mình thì phần 2 (bốn mươi bảy dòng thơ tiếp theo) nhà thơ đi sâu vào tư tưởng cốt lõi: Nhân dân chính là người “đã làm ra Đất Nước” nên “Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân – Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”. Và để đi đến tư tưởng đó, tác giả đã một lần nữa soi ngắm thật kĩ một cách toàn diện vào các tầng không gian địa lí, thời gian lịch sử và văn hóa của Đất Nước:

Nhà thơ đã sử dụng không gian địa lí để khám phá, ngợi ca công lao to lớn của nhân dân trên hành trình dựng nước:

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên.

Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…”

Bằng thủ pháp liệt kê độc đáo, người đọc được tiếp nhận một phát hiện mới rất thú vị: những danh lam thắng cảnh trên đất nước ta như Vịnh Hạ Long, những di tích văn hóa như Hòn Vọng Phu, Núi Bút, Non Nghiên, những di tích lịch sử như Làng Gióng, Đất Tổ trải dài trên khắp đất nước ta. Tất cả không chỉ là địa hình núi sông thuần túy mà tạo hóa đã ban tặng, mà còn được cảm nhận như một sự đóng góp của nhân dân, sự hóa thân của những cảnh ngộ, số phận của nhân dân và thấm đẫm vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân: thủy chung, yêu nước, hiếu học…

Nếu không có những người vợ Việt Nam chung thủy đợi chồng, mòn mỏi qua bao cuộc chiến tranh và li tán thì không thể có cảm nhận Núi Vọng Phu, Hòn Trống Mái. Phải chăng truyền thuyết Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, nhổ tre làng đánh giặc Ân đã khiến ao đầm làng gióng lấp lánh vẻ đẹp của tinh thần yêu nước? Một truyền thuyết Hùng Vương nên địa hình núi sông hùng vĩ quanh đền Hùng mới được gọi là “Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất tổ Hùng Vương”. Niềm tự hào về mảnh đất thiêng, về xứ sở thanh bình dạt dào sông nước đã hóa thành tên gọi Cửu Long – tên một dòng sông xanh thẫm đất phương Nam. Truyền thống hiếu học của những người học trò nghèo Việt Nam bao đời đã được tạc ghi trong tên gọi “Núi Bút, Non Nghiên”. Cuộc sống bình dị và sự đóng góp thầm lặng, khai khẩn đất hoang của những người dân đã đặt tên cho non núi “Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”. Đến cả “con cóc, con gà quê hương” cũng “góp cho Hạ Long thành thắng cảnh”, thành đất nước dung dị mà tươi đẹp.

Xem thêm:  Cây lớn một ôm, khởi sinh từ một cái mầm nhỏ, đài cao chín tầng, khởi đầu từ một sọt đất, đi xa ngàn dặm, bắt đầu từ một bước chân

Hình ảnh núi sông hội tụ lấp lánh qua những vầng thơ, soi bóng tâm hồn của những cuộc đời vô danh, càng thấm thía một điều bình dị: Đất nước của nhân dân, đất nước mang màu sắc dân gian, dân dã, gần gũi mà thiêng liêng…

“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…”

Ý thơ được nâng lên tầm khái quát, sự hóa thân bóng hình của nhân dân vào đất nước đã lý giải chính nhân dân là người tạo dựng, đã đặt tên, ghi dấu ấn cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, miền đất quê hương….

Không những có cái nhìn ở không gian địa lí, Nguyễn Khoa Điềm còn có cái nhìn về phương diện thời gian lịch sử và cũng đã khẳng định tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”. Chính tư tưởng này đã chi phối toàn bộ suy nghĩ của nhà thơ khi nhìn vào lịch sử “bốn nghìn năm Đất Nước”:

“Em ơi em

Hãy nhìn rất xa

Vào bốn ngàn năm Đất Nước

Năm tháng nào cũng người người lớp lớp

Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta

Cần cù làm lụng

Khi có giặc người con trai ra trận

Người con gái trở về nuôi cái cùng con

Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh”

Khi tái hiện dòng thời gian lịch sử của đất nước, nhà thơ không nhắc lại các triều đại hoàng kim như Đinh, Lý, Trần, Lê…, cũng không nhắc đến những anh hùng đã từng được sử sách lưu danh mà “cả anh và em đều nhớ”. Trên nền quá khứ mấy ngàn năm, nhà thơ chỉ tập trung nói về những con người bình thường, vô danh. Đó là “họ”, là “lớp lớp, con gái, con trai” đã lao động, chiến đấu suốt bốn nghìn năm để dựng nước và giữ nước. Họ là Nhân dân. Tên tuổi họ chưa một lần được khắc ghi trong sử vàng dân tộc “không ai nhớ mặt đặt tên” nhưng cuộc đời thầm lặng của mỗi người đã “hóa núi sông ta”. Cảnh sắc núi sông gắn liền với tâm hồn dân tộc, khí phách của giống nòi.

Cái bình dị tồn tại quanh ta, hòa quyện với cái cao cả, thiêng liêng, cho thấy vẻ đẹp vĩnh hằng của đất nước và sự trường tồn của dân tộc gắn liền với muôn triệu nhân dân của mọi thế hệ, trôi theo dòng chảy thời gian lịch sử của đất nước:

“Có biết bao người con gái, con trai

rong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”

Đúng vậy, nhân dân chính là người “đã làm ra Đất Nước”. Tuy họ không để lại tên tuổi của mình trong sử sách nhưng chính họ đã sáng tạo nên những trang sử hào hùng, làm ra mọi giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước. Và họ luôn sẵn sàng đứng lên chiến đấu đánh đuổi cả ngoại xâm lẫn nội thù để gìn giữ một đất nước tự do, thanh bình.

Có sự gặp gỡ giữa Nguyễn Khoa Điềm với Nguyễn Đình Thi ở quan niệm: đất nước anh hùng được làm nên bởi những con người bình thường mà phi thường, giản dị, mộc mạc mà cao cả, kì vĩ:

“Ôm đất nước những người áo vải

Đã đứng lên thành những anh hùng”

Khi nhìn vào phương diện văn hóa, nhà thơ cũng khẳng định vai trò của nhân dân:

“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng

……………………………………………………….

Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái”

“Đất Nước của Nhân dân” không chỉ hiện diện ở bề rộng của không gian địa lí, ở chiều dài của thời gian lịch sử mà còn ở thẳm sâu của tâm hồn, tầm cao của lí trí giống nòi, bề dày của văn hóa, phong tục. Nhân dân không chỉ lao động, chiến đấu, mà con là những người sáng tạo ra văn hóa dân tộc. Hàng lọat những động từ được liệt kê “giữ, truyền, chuyền, đắp, be, trồng cây, hái trái” thể hiện sự cần cù, siêng năng, tinh thần chăm lo lao động của bao thế hệ Việt Nam. Những “hạt lúa, hòn than, tiếng nói” đều rất giản dị nhưng lại chính là sự sống của mỗi cá nhân, sự sống của cả dân tộc, là nền văn hóa, là hồn thiêng sông núi mà chính nhân dân đã sáng tạo, giữ gìn, truyền qua muôn đời, tạo thành bản sắc văn hóa Việt Nam.

Mạch cảm xúc này dâng lên thành cao trào, để nhà thơ khẳng định một chân lí:

“Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân

Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thọai”

“Đất Nước của Nhân dân” cũng chính là “Đất Nước của ca dao thần thọai”, bởi nói đến nhân dân là nói đến những nét đẹp bình dị mà tinh túy, những nét đẹp này vẫn lấp lánh trong ca dao, thần thọai. Hay nói cách khác “ca dao thần thọai”chính là sáng tác của nhân dân, phản ánh đời sống, tâm tư, tình cảm của nhân dân.

 Nếu Lí Thường Kiệt với “Nam Quốc Sơn Hà” đã phải dùng “đế cư, thiên thư” để trang trọng hóa đất nước, nếu Nguyễn Đình Chiểu với “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” phải nhờ đến “Một mối xa thư đồ sộ, hai vầng nhật nguyệt chói lòa” để thiêng liêng hóa đất nước, thì với hệ thống từ ngữ giản dị, mang đậm văn hóa dân gian, Nguyễn Khoa Điềm đã bình dị hóa đất nước, làm cho đất nước hóa thân trong tâm hồn và cụôc sống của mỗi người dân trên đất nước này:

Xem thêm:  Cảm nhận bài thơ Đất Nước của Nguyễn Đình Thi

“Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi

……………………………………………………..

Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”

Ở đọan thơ trên, nhà thơ đã vận dụng và chuyển ý sáng tạo những câu ca dao thành lời thơ đằm thắm, ca ngợi nhân dân, ca ngợi bản sắc dân tộc. Trong cả kho tàng ca dao-dân ca phong phú của dân tộc, nhà thơ đã chọn lọc ba câu để nói về ba phương diện truyền thống của nhân dân. Đó là sự say đắm trong tình yêu nhân văn – “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi”, đó là quý trọng lối sống tình nghĩa – “Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội” và một phẩm chất nữa là bền bỉ kiên cường trong chiến đấu giữ nước – “Biết trồng tre đợi ngày thành gậy. Đi trả thù mà không sợ dài lâu”.

Vẫn là ý và hình ảnh của các câu ca dao quen thuộc nhưng đã trở thành những câu thơ hiện đại của Nguyễn Khoa Điềm một cách tự nhiên, nhuần nhị, gắn bó với toàn mạch cảm xúc của chương V. Đó chính là nét đặc biệt của chương thơ “Đất Nước”. Cái gì đã làm cho nước Việt Nam tồn tại mà không xóa nhòa bản sắc của mình? Cái gì đã làm cho con người Việt Nam có một truyền thống văn hiến rực rỡ? Chính là nhân dân Việt Nam đã sống rất đôn hậu, nhiệt tình, đời thường, ngay cả những khi hoàn cảnh lịch sử phá vỡ không khí đời thường đó. Đọan thơ khép lại bằng hình ảnh “dòng sông” và “câu hát” đem lại cảm nhận: Đất nước ta đẹp hiền hoà và vĩnh cửu như một dòng sông vô tận, chảy từ quá khứ đến hiện tại và vĩnh hằng tới tương lai.

Trên những dòng sông đất nước, âm vang của những sắc màu và giai điệu văn hóa Việt Nam, phẩm chất tâm hồn Việt Nam vô cùng yêu quý và tự hào! Thán từ “Ôi” mang một cảm xúc trào dâng, vỡ òa của nhà thơ khi trở về với những dòng sông của “Đất Nước”: dòng sông của không gian địa lý – dòng sông của thời gian lịch sử – dòng sông của chiều sâu văn hóa, văn học dân gian về hội tụ ở đây “Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”. “Gợi trăm màu” là một cách hình tượng hóa ngôn ngữ, nhưng đồng thời cũng là sự kì vọng về tinh thần hội nhập nhưng biết giữ gìn văn hóa đối với thế hệ mai sau. Đây chính là nội dung triết lí sâu sắc, một cấu trúc quy nạp đậm chất trữ tình, đầy sáng tạo của nhà thơ. Tóm lại, đoạn thơ kết thúc vừa hiện thực vừa lãng mạn bay bổng thể hiện niềm tin và hi vọng của tác giả về một tương lai thanh bình cho quê hương, đất nước.

Nhân dân đã làm nên lịch sử, làm ra văn hóa là sáng tạo nên đất nước để càng thêm tự hào và ngân lên khúc hát ngợi ca dạt dào say mê. Suy tư và nhận thức này của nhà thơ là tư tưởng nghệ thuật đã trở thành truyền thống trong văn học Việt Nam. Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu đã từng nói lên nhận thức về vai trò của nhân dân trong lịch sử. Đến các nhà thơ, nhà văn trong thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ đã nâng nhận thức này lên thành một tư tưởng có tầm cao mới.

Tóm lại, đoạn trích "đất nước" đã thể hiện cảm hứng độc đáo có tính phát hiện về Đất Nước trong cái nhìn tổng hợp, toàn vẹn mang đậm tư tưởng thời đại: “Đất Nước là của Nhân dân”, với lòng yêu nước tự hào, yêu nền văn hóa, niềm tin vào sức mạnh nhân dân, vào tương lai của đất nước, nhất là thắp sáng lên những khát vọng làm người như tên gọi của bản trường ca “Mặt đường khát vọng”.

Đoạn thơ giàu chất trữ tình chính luận, vừa được viết bằng chiều sâu trí tuệ, chiều cao văn hóa, vừa được viết bằng những rung động mãnh liệt của cảm xúc nên rất dễ đi vào lòng người. Lời thơ đậm đà chất liệu văn hóa văn học dân gian, được lấy cảm hứng từ ca dao, dân ca, cổ tích, truyền thuyết nên đậm đà bản sắc dân tộc, mở ra một đất nước thơ mộng trữ tình từ xa xưa vọng về gần gũi, thân thương. Đặc biệt, chương thơ rất ít vần, nó có chất thơ là nhờ vào việc xây dựng hình ảnh, giọng điệu thơ trầm bổng thiết tha, mang âm hưởng của ca dao, dân ca.

Trần Báu

Check Also

Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Đề bài: Em hãy nêu cảm nhận về bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Bài …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *